Lý thuyết Dow đã có khoảng gần 100 năm, nhưng kể cả trong thị trường ngày nay – những thị trường rất biến động và bị các yếu tố công nghệ chi phối, các yếu tố cơ bản của lý thuyết Dow vẫn giữ vững. Được phát triển bởi Charles Dow, được William Hamilton chọn lọc lại và hiệu đính lại bở Robert Rhea, lý thuyết dow không chỉ nói về phương pháp phân tích kĩ thuật và hoạt động của giá cả, mà còn nói về nguyên lý của thị trường. Rất nhiều ý tưởng và nhận xét được Dow và Hamilton đã trở thành chân lý của Phố Wall. Trong khi có một vài người có thể nghĩ rằng ngày nay mọi chuyện đã khác, việc đọc kĩ lí thuyết Dow sẽ chứng thực rằng thị trường chứng khoán ngày nay cũng hoạt động tương tự như 100 năm về trước.
Lý thuyết Dow thường dùng trong chứng khoán và thường được coi là nguyên lí cơ bản của phân tích kĩ thuật.
Lý thuyết này thực là không hề khó để giải thích và rất dễ thấy nếu bạn dành thời gian để suy nghĩ về nó. Mình xin đơn giản nó đi một chút, vì chúng ta chưa đi vào mặt nào của lý thuyết này:
1. Thị trường giảm giá mọi thứ. Giá mà bạn là giá thực của thị trường. Nếu bạn đang đi theo một loại cổ phiếu và cổ phiếu đó được định giá ở một mức x thì đó chính là giá trị hợp lí của nó. Người ta giả sử rằng mọi thông tin được biết đến về loại cổ phiếu hay tiền tệ đó đều đã được thị trường đưa vào xem xét và phản ánh lên giá cả . Nếu thông tin mới được giới thiệu thông tin này sẽ làm thay đổi giá cả và và vẫn sẽ được phản ánh lên giá.

2. Thị trường có 3 xu thế chính. Ở đây bạn sẽ vô tình bắt gặp một vài cụm từ chuyên ngành dành cho phương pháp phân tích kĩ thuật nhưng hãy nhớ cho mình và mình sẽ giải thích cho các bạn sau.
Lí giải của Dow về một xu thế là những cuộc chạy đua ( thường được gọi với từ chuyên ngành là rally) lên cao thì sẽ cao hơn những cuộc chay đua đã cao sẵn trước đó và những cuộc chay đua xuống thấp thì sẽ thấp hơn những cuộc chay đua xuống thấp trước đó.
3 xu thế là – xu thế gốc hay xu thế cơ bản (primary trend), xu thế thứ 2 (second trend), và những xu thế nhỏ (minor trends). Điều này rất quan trọng vì sau này khi các bạn thảo luận về vấn đề này, đây sẽ là yếu tố đóng vai trò chủ chốt trong phân tích của chúng ta.
Xu thế cơ bản (primary trend) là lực lượng chính đằng sau xu thế và giống như một dòng chảy của sông theo một hướng cơ bản. Xu thế thứ 2 giống như một nhanh của xu thế chính.Nhánh này có thể rẽ ra một lúc nhưng cuối cùng cũng quay lại đi theo dòng của dòng sông chính. Xu thế nhỏ thì giống như một dòng suối nhỏ, có lúc chạy theo hướng này và hướng kia nhưng vẫn được dẫn dắt theo một hướng chung của dòng sông.
Xu thế cơ bản có thể mất nhiều năm để kết thúc và phát triển theo thời gian. Xu thế thứ 2 có thể xẩy ra bất cứ ở đâu từ một vài tuần tới một vài tháng nếu tính theo thời gian và xu thế nhỏ có thể đi theo hướng ngược lại của xu thế cơ bản. Những xu thế nhỏ như là xu thế hàng ngày (daily trend) kéo dài một vài ngày hoặc tương tự và thường ko có gì quá nổi bật.
3. Ngoài 3 loại trends trên, sau này Dow còn tiếp tục hạn chế hơn nữa xu thế bằng cách cho rằng xu thế luôn có 3 kì: kì tích lũy (accumulation stage), kì tham dự chung (public participation) và cuối cùng là kì phân phát (distribution stage)
Xem thêm: hướng dẫn sử dụng ichimoku
4. Vì chỉ số Dow trung bình cơ bản bao gồm các cổ phiếu từ những mảng khác nhau phân tiếp theo của lý thuyết Dow nói về việc chỉ số trung bình của những mảng khác nhau phải khẳng định lẫn nhau.
5. Dow cũng xét đến hiệu ứng của khối lượng trong một xu thế. Ông khẳng định rằng khố lượng nên phát triển theo cùng một hướng với xu thế.
6. Phần cốt lõi cuối cùng của lý thuyết này là: Người ta nên giả sử rằng xu thế vẫn luôn mạnh đến tận khi có một biểu thị rõ ràng rằng xu thể đó trên thực tế đã thay đổi.
Giải thích của mình về lý thuyết Dow ở trên rất ngắn gọn vì thực sự để đi sâu vào từng phần cụ thể của lý thuyết này ở đây là ngoài khả năng.
Và đối với điều mà mình đang cố gắng đạt được ở đây là gợi mở cho các bạn một ý tưởng lớn về việc làm thế nào mà thị trường lại hoạt động như thế và làm thế nào để thực hiện giao dịch một cách hiệu quả thì lí thuyết này cũng ko phải là quá cần thiết.
Điều cốt lõi mà mình muốn các bạn rút ra được từ lý thuyết này là có 3 dạng xu thế : xu thế cơ bản ( primary trend), xu thế thứ 2 ( second trend) và những xu thế nhỏ (minor trends). Sau này các bạn sẽ phải cần ý tưởng này để tiếp cận các giao dịch của bạn đó.
Trong khi lý thuyết này có thể tạo ra cơ bản cho sự phân tích, lý thuyết được định nghĩa là khởi điểm cho các nhà đầu tư và traders để phát triển các hướng dẫn phân tích mà các traders cảm thấy thoải mái và thấu hiểu.